Land not to plough – Đất không để cày*

Contrary to assumption, the perception of a ‘disagreeable’ attitude amongst the youth of today is not simply argued as a desire for autonomy in a society that seeks to control, but more a reflection of a mood of critical self-reflection.   In Vietnam, young people are observed and understood through categorizations. These stereotypes are often formed through a misinterpretation of social respect, cultural and spiritual traditions Emerging from this observed fray are three Saigon-based artists Vo Tran Chau, Le Dinh Chung and Nguyen Anh Thao who have created an intimate room titled Born from The Land, where their art provides a stage for critical social feedback.

-

Trái với mặc định thường gặp, thái độ bất bình của giới trẻ thời đại ngày nay không nhất thiết là một thứ để chứng tỏ sự tự do ý chí trong xã hội, mà hơn cả, nó là một cách thức phản tư mang tính tự phê phán. Người trẻ tuổi ở Việt Nam thường bị quan sát hay nhận xét thông qua các kiểu mẫu phân loại và đánh giá trong xã hội. Các khuôn mẫu bất di bất dịch này hình thành do hiều biết sai lầm về tôn ti trật tự xã hội, hay truyền thống văn hoá và tinh thần. Suy ngẫm về cuộc mâu thuẫn giữa định kiến xã hội và thái độ tự phê bình này, ba nghệ sĩ Sài Gòn, Võ Trân Châu, Lê Đình Chung và Nguyễn Anh Thao, đã tạo nên một căn phòng gần gũi, thân mật mang tên Từ đất sinh ra, nơi nghệ thuật của họ trở thành một bục diễn đàn cho sự phản ánh xã hội.

 

These three artists have transformed the interior space of San Art. Vo Tran Chau has built a temporary well in the centre of the gallery. Her colorfully molded brick well, physically forces the viewers into a limited area around it. Living in a Thu Duc, a suburb of Saigon, surrounded by ecological gardens and handicraft ateliers, Tran Chau tends to use natural objects to materialize her art. For instance, her installation ‘To be cast in the same mold’ comprises more than 100 materials such as rice, leaves, beans, peas, threads, pencils, and much more. Each brick comprises one material as a metaphor of one particular characteristic of an individual. Each brick becomes a component of the well.  The well is a strictly controlled construction settled in space; while also a physical threat as its structure seems unstable and easily dismantled. Tran Chau is the only female artist in the exhibition and she does not refuse her femininity. The well’s inner side raises a temptation to discover and to fill it up. Conscious of how the ‘feminine’ can magnetize viewers’ fascination with beauty, she capitalizes on this aesthetic argument to also make comment on social discipline and formation. Do standardized regulations construct beauty and happiness? Is a governed structure always the absolute principle that every network should acquire?

-

Ba nghệ sĩ đã thay đổi không gian nội thất của Sàn Art. Võ Trân Châu xây một cái giếng ngay chính giữa phòng tranh. Cái giếng gạch đổ khuôn đủ màu của cô tựa như dùng lực kéo người xem vào một khu vực bị giới hạn xung quanh nó. Sinh sống tại Thủ Đức, khu ngoại ô Sài Gòn, bao quanh bởi những khu vườn sinh thái và xưởng thủ công, Trân Châu có xu hướng vật chất hoá thiên nhiên trong cách làm nghệ thuật của cô. Như sắp đặt ‘Cùng một khuôn’ trong triển lãm lần này chẳng hạn, tác phẩm gồm hơn 100 vật liệu tự nhiên như gạo, lá cây, đậu, hạt, chỉ, bút chì, v.v… Mỗi viên gạch đóng khuôn từ một loại vật liệu riêng, ẩn dụ cho một đặc tính cá nhân riêng biệt. Từng viên gạch đó trở thành một thành tố của cái giếng. Giếng của Trân Châu là một công trình chặt chẽ được dựng giữa không gian, nhưng đồng thời ở đó vẫn tồn tại một mối hiểm nguy vật lý có thể phá vỡ toàn bộ cấu trúc một cách dễ dàng. Trân Châu là nữ nghệ sĩ duy nhất trong triển lãm và cô cũng không chối bỏ sự nữ tính của mình. Hình ảnh lòng giếng khơi lộ rõ làm dấy lên nỗi khát khao thám hiểm và lấp kín nó. Ý thức rõ ‘tính nữ’ có thể mê hoặc người xem bằng vẻ đẹp, cô đã tận dụng vẻ ngoài thẩm mỹ này để gửi gắm những trăn trở về kỉ cương và khuôn thức  xã hội. Liệu những quy luật chuẩn hoá có định nghĩa được vẻ đẹp và hạnh phúc? Liệu một kết cấu được cai quản nghiêm ngặt có phải là nguyên tắc căn bản tối cao cho mọi hệ thống?

 

In contrast with Tran Chau’s aesthetic femininity and conceptual provocation in stability and insecurity, Le Dinh Chung demonstrates a ‘fire with fire’ attitude: he exhausts the media resources in his sculptural installation to imply the conflict of media that manipulate ideas by edited knowledge today. Twelve upturned televisions, its external surface painted in military camouflage design and pieced together within a large red metal cage, are set up as a kind of info-station. The top row represents Hanoi and its TV content; the middle row represents Ho Chi Minh City’s TV content; while the final bottom row of ## sit quietly in static, as if the signal has dropped. Multiple symbolic and metaphoric layers are suggested, as if waiting to be discovered, like a guerilla ready to engage a fight. The obscure arrangement of the television’s in a row of three and stacked atop each other represent altered facts and figures.  The camouflage pattern suggest a hidden message to the audience; while the red color operates as a signal of officialdom or authority. These layers combined illustrate the presumed common knowledge of the public, in which the television is a mainstream information source for contemporary society where the national and provincial television channels are legitimate news broadcast and the red paint represents our land and the party’s official color. It is also remarkable to recognize an analytical motif about standardization and regulated formation between Tran Chau’s and Dinh Chung’s work: the number 12 – a dozen; the number of months in a year; the astrological calendar of the 12 zodiac; or the Lunar Calendar and its cycle of 12 in differentiating the animal signs.

-

Đối lập với thẩm mỹ nữ tính và sự khiêu khích trừu tượng về mâu thuẫn giữa vững chắc và bấp bênh của Trân Châu, Lê Đình Chung thể hiện quan điểm ‘lấy mỡ nó rán nó’:  trong sắp đặt mang tính điêu khắc của mình, anh khai thác tận cùng nguồn truyền thông, ngụ ý về cuộc mâu thuẫn trong thế giới truyền thông hiện tại, trong việc vận dụng lôi kéo bằng thông tin đã bị chỉnh sửa. Mười hai chiếc tivi phủ sơn nguỵ trang quân đội rồi đặt trong lồng sắt sơn đỏ tạo nên một trung tâm thông tin. Hàng đầu tiên chiếu các kênh truyền hình trung ương, hàng thứ hai chiếu kênh địa phương và hàng cuối cùng màn hình bị nhiễu, giả như đang bị mất sóng. Nhiều lớp ý ẩn dụ và tượng trưng đợi chờ được khám phá từ tác phẩm, như thể một chiến sĩ du kích sẵn sàng lao vào trận đánh. Cách sắp xếp các tivi thành hàng dãy chồng chéo lên lẫn nhau trông khá kì lạ tương ứng cho thông tin chi tiết bị sửa đổi. Lớp màu nguỵ trang gợi thông điệp ẩn giấu cho người xem, trong khi màu đỏ là dấu hiệu của trung tâm đầu não hay căn cứ điều hành. Những lớp ý này cũng kết hợp cùng với cách hiểu của đa số quần chúng, ví dụ truyền hình là nguồn kênh thông tin chính thống từ nhà đài trung tương và địa phương, hay màu đỏ là sắc màu biểu tượng của quốc gia và của Đảng. Đáng chú ý ở triển lãm là motif nói về sự chuẩn hoá và khuôn mẫu quy định trong tác phẩm của Trân Châu cũng xuất hiện ở sắp đặt của Đình Chung: cụ thể là con số 12 có nghĩa là một tá, số tháng trong năm, 12 con giáp hay 12 cung hoàng đạo.

 

Differing from the experimentation of Tran Chau and Dinh Chung, Le Anh Thao continues to practice with the oil painting medium. While the other two artists imply conceptual critique through physical objects, Anh Thao travels to his inner world to expose an idea about his external social, cultural and political world. The three large paintings depict a serial scene of a man gasping for oxygen as his head is wrapped tightly in a clear plastic bag. The man’s face, painted in red, black and white, appears to be drowning in slow agony from the disillusion of life. This awkward moment of death conjures cinematic sequences of a dramatic psycho movie. Anh Thao reveals that this body of work comes from a strange desire to endure the corporeal experience of annihilation. Driving his body to its limitation, Anh Thao aims to transcend any norm of the body’s consciousness. The normativity, in general, is derived not only from moral norms, that have been standardized by society for a long time and may apply in every culture worldwide, but from an individual’s conception about aesthetic, historical and social ideality as well. When Anh Thao tries to examine the limits of his nature, it is also his way to question a presumed human universality.

-

Khác hẳn với cuộc thử nghiệm trong vật liệu và sắp đặt của Trân Châu và Đình Chung, Lê Anh Thao tiếp tục thực hành nghệ thuật với chất liệu tranh sơn dầu. Trong khi hai nghệ sĩ kia thể hiện những luận điểm ý niệm của mình thông qua các vật chất cụ thể chung quanh họ, Anh Thao du hành vào thế giới nội tâm để bộc lộ suy nghĩ về thế giới xã hội, văn hóa và chính trị bên ngoài con người anh. Ba bức tranh khổ lớn khắc hoạ một chuỗi cảnh người đàn ông đớp lấy không khí khi đầu ông ta bị bọc kín bởi một cái bọc nhựa. Gương mặt người đàn ông phết quyện giữa màu đỏ, đen và trắng hiện ra như thể đang đắm chìm trong cơn hấp hối dằng dặc hay sự vỡ mộng của cuộc đời. Khoảnh khắc nguy hiểm đối mặt với cái chết gợi lên những thước phim bi-kinh dị. Anh Thao cho biết tác phẩm này ra đời từ một niềm khao khát kì lạ muốn trải qua sự hủy diệt hữu hình. Cưỡng bức cơ thể mình tới mức giới hạn của nó, Anh Thao hướng tới việc việc qua ngưỡng ý thức của cơ thể. Mỗi tiêu chuẩn đặt ra, trên bình diện chung, không chỉ từ những nguyên tắc đạo đức đã chuẩn hóa lâu đời trong xã hội, điều có thể thấy ở hầu hết các nền văn hóa trên thế giới, mà còn từ nhận thức cá nhân về lý tưởng thẩm mỹ, lịch sử và xã hội. Khi Anh Thao cố gắng tìm kiếm giới hạn tự nhiên của cơ thể anh, anh cũng đồng thời đặt ra câu hỏi cho những gì vốn dĩ được xem là hoàn toàn đúng và phổ thông cho nhân loại.

 

Understanding ‘land’ beyond its concrete substance of tillage is not a new direction in the art world, if we think of the artists in the 1960s and 1970s went artist’s created works in and with the natural environment, as a movement transferring the audience of art beyond the white walls of a gallery. ’Land’, in many languages, is related to ideas of nation, descent, heritage and culture. In Vietnam, largely an agricultural economy, ‘land’ is popularly understood as a near sacred space, where a circle of life takes place – new life born from land and it returns to land after death. This exhibition is a metaphysical deliberation on the existence of self and its autonomy in contemporary life.

-

Bàn về từ ‘Đất’, vượt qua ý nghĩa cụ thể của nó là một thứ vật chất, không phải là một hướng mới mẻ trong thế giới nghệ thuật, nếu chúng ta nhớ đến trào lưu của các nghệ sĩ vào thập niên 60-70, khi họ đưa việc sáng tạo nghệ thuật của mình ra bên ngoài môi trường tự nhiên nhằm đẩy khán giả ra khỏi bốn bức tường bó hẹp trong phòng tranh. ‘Đất’, trong nhiều ngôn ngữ, đều có ý nghĩa liên quan tới đất nước, nguồn gốc, di sản và văn hóa. Trong tiếng Việt, ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp xa xưa, ‘đất’ được hiểu như một cõi linh thiêng của vòng luân hồi sự sống – nơi sự sống mới được sinh ra từ đất và sự sống quay trở lại với đất sau cõi chết. Cuộc triển lãm lần này, vì thế, là một cuộc mạn đàm siêu hình qua tác phẩm nghệ thuật về sự tồn tại của cái tôi và sự tự do của nó trong xã hội đương đại.

 

*: or The Wandering through ‘Born from the Land’ exhibition of Vo Tran Chau, Le Dinh Chung and Nguyen Anh Thao at SanArt // hay chuyện lang thang ở triển lãm ‘Từ Đất sinh ra’ của ba nghệ sĩ Võ Trân Châu, Lê Đình Chung và Nguyễn Anh Thao tại SànArt.

The battlefield of Humor and Irony – Cuộc chiến giữa Hài hước và Châm biếm*

Humor in the arts often turns out to be irony. It is not perplexing or unexplainable, since arts nowadays tend to be critical and raise their eyebrows towards everything. Humor makes people laugh, but what they laugh at and how they feel after the laughter prompt either pleasant or ironic impression to themselves. On developing a piece of work, the artists unavoidably have to set their point of view or belief in a specifically expressive mood. That the public is considered during this realizing process, cannot assure any certain prediction of the viewers’ mood once they confront the artwork. For instance, the artists could have referred a sharp irony in their pieces; the viewers then nevertheless find them as amusing humor. Humor vs. Irony is a very hard game for the artists to play with their ideas and the public, is also not an easy match for the public to participate in without understanding its context. Do we want to simply be entertained by the artworks or do we over-interpret those works to manipulate them in accordance with our determined sarcasm?

-

Tính hài hước trong nghệ thuật hoá ra thường là sự châm biếm. Cũng chẳng có gì phức tạp hay khó hiểu ở đây, vì nghệ thuật ngày nay có khuynh hướng chú trọng phê bình và nhắm sự quan tâm tới tất cả mọi vấn đề. Hài hước khiến người ta bật cười; nhưng cái mà họ cười và những gì còn đọng lại sau trận cười ấy sẽ chỉ rõ xem họ đang có cảm giác dễ chịu hay mỉa mai. Khi phát triển một tác phẩm, người nghệ sĩ không khỏi sắp xếp ý nghĩ hoặc niềm tin của mình vào một trạng thái biểu đạt nhất định. Việc phản ứng của khán giả có được cân nhắc trong quá trình thực hiện này hay không, cũng không đảm bảo được tính chính xác cho bất cứ dự đoán nào về trạng thái của người xem khi đối mặt với tác phẩm. Chẳng hạn, nghệ sĩ có thể ám chỉ một cú châm biếm sắc bén trong tác phẩm, thế nhưng người xem sau đó lại thấy tác phẩm ấy hoàn toàn chỉ là trò đùa vui. Hài hước & Châm biếm là một cuộc chơi rất khó nhằn cho người nghệ sĩ khi bông đùa với ý tưởng cá nhân lẫn với công chúng; nó cũng không phải một trận đấu dễ dàng cho mọi khán giả nếu họ muốn vào tham gia mà không chuẩn bị tinh thần và hiểu biết về bối cảnh trong cuộc. Liệu chúng ta đơn thuần muốn giải trí bằng nghệ thuật hay chúng ta thích diễn giải các tác phẩm nghệ thuật ấy một cách quá lố nhằm biến chúng thành sự chế nhạo mà ta mong muốn chúng đi theo?

 

Coming to ‘A herd of unidentified cows’ exhibition by Nguyen The Dzung, we face a demonstration of cows that seem to wait for being laughed at, made fun of and mocked at. Yet first of all, before teasing about their stupidity, human consider cow as a nice, decent and very obedient breed, even as big pet. And we see this cherishing attitude in Dzung’s early paintings, such as ‘Rhythm of Life’ (2010), when he depicted the poor giant cows getting lost in traffic-jam, as if he – the herd-man – fell asleep while his herd were travelling to the world of strange urbanization. The cows’ bottoms and vaginas are exposed normally like we see our pets’ body. What look odd here are not the relaxing cows but the hectic and fending off traffic. Here Dzung’s humor is fictional, awkward notwithstanding it is delightful.

-

Tới xem triển lãm ‘Đàn bò một con’ của Nguyễn Thế Dzung, chúng tôi đối diện với một cuộc biểu trưng của những con bò có vẻ đang chờ đợi bị cười vào mũi, biến thành trò cười hay bị trêu chọc. Tuy vậy, trên hết, trước khi trêu chọc về sự ngu dốt của chúng, con người luôn coi loài bò là một giống vật hiền lành, ngoan ngoãn và biết nghe lời, gần như là một kiểu ‘thú cưng’ to xác. Và chúng tôi bắt gặp thái độ yêu mến này trong những bức tranh đầu tiên của Dzung, ví dụ bức ‘Nhịp sống’ (2010), trong đó anh vẽ những con bò khổng lồ tội nghiệp đang bị lạc lối giữa mớ giao thông hỗn mang, như thể anh – thằng bé mục đồng – lỡ ngủ quên trong khi đàn bò của mình thong dong đi vào thế giới của sự đô thị hóa đầy lạ lẫm. Mông và âm vật của mấy con bò xuất hiện trên tranh trông rất bình thường, giống như ta nhìn thấy cơ thể của thú nuôi trong nhà. Cái kì quái không phải là những con bò đang đứng hay nằm lơ đễnh, mà là đám phương tiện giao thông náo loạn và vội vã. Sự hài hước của Dzung ở đây mang tính hư cấu, kì lạ nhưng lại gây thích thú, vui vẻ.

 

In a flash the delightfulness vanishes and is replaced by a series of freak shows. They are marches of bare cows’ saggy breasts, blackish vaginas and anuses, or purple cows in dressed-up uniform suits, in addition to abnormal fusing body parts. The lighthearted cows are suddenly transformed into cunning figures, which kick us out of the pleasurable fairy tales of urbanization and countryside, subsequently throw us into a colony of cows. Those cows are no more our pets; conversely we are dominated and directed by those monstrous cows. They become our colonists; they use their now and then ignorant or alluring gestures to make us focus on them. Within this focus we discover Dzung’s concealed humor, which might be better described as irony deriding the viewers. Is it convincing to call it an ironic attitude? We think yes, inasmuch as we feel being overlooked by those wicked cows!

-

Trong chớp mắt, sự vui vẻ ấy tiêu tan, nhường chỗ cho một chuỗi các màn quái chiêu. Đấy là cuộc diễu hành của đàn bò trần trụi những vú chảy xệ, âm vật và hậu môn thâm đen, hay những con bò tím ngắt diện bộ vét-tông đồng phục bảnh choẹ, cộng thêm với những mảng bộ phận cơ thể dính chùm bất thường. Lũ bò vô tư lự bỗng chốc chuyển hóa thành những nhân vật ranh mãnh, đá chúng tôi ra khỏi câu chuyện cổ tích dễ chịu về đô thị hóa và nông thôn, rồi ném chúng tôi vào chốn thuộc địa của loài bò. Lũ bò không còn là thú nuôi đáng yêu nữa; trái lại, chính chúng tôi bị điều khiển bởi những con bò quái vật ấy. Chúng trở thành những kẻ thực dân, dùng cử chỉ lúc thì dửng dưng lúc thì dụ dỗ mời gọi nhằm bắt chúng tôi chú ý. Trong lúc tập trung, chúng tôi phát hiện sự hài hước kín đáo của Dzung, hoặc giả mô tả là sự châm biếm chế giễu người xem. Có đáng thuyết phục không khi gọi đó là một thái độ châm chích? Chúng tôi nghĩ hoàn toàn có thể, một khi chúng tôi thấy mình vẫn bị kiểm soát bởi đám bò tinh quái kia!

 

 

 

*: or The Wandering through Cactus Gallery, at Nguyen The Dzung’s solo exhibition//  hay chuyện lang thang ở Phòng tranh Xương Rồng, nhân triển lãm cá nhân của Nguyễn Thế Dzung.

 

[All images are courtesy of Cactus Gallery.// Tất cả các hình ảnh trong bài thuộc về Phòng tranh Xương Rồng.]

Crystalized Monster – Con quái vật được kết tinh

Were we the people in the early years of the twentieth century, we would have wondered why our breeds in the next century could live so dependently on the computing system. Almost everything that we nowadays do, make and act has at least a relation to technology-based process. Once upon a time, well, not so long ago since the industrial revolution, all were trying to invent new technologies and to apply them to every single working process. It was a competitive track of human evolution, when producing as much results in shortest time is a tool not only to strengthen its industry but also to bolster up the power of national economics. But it’s not just macro anymore. Now innumerable so-called fans of hi-tech are heeding to newest features for their cool compact gadgets of personal usage, which are entirely run by computing apparatus built inside. We know very well its abstract digits like ‘as fast as x-GHz’, ‘x-p HD’, and the higher digits we can reach the more satisfaction we gain. Isn’t it bizarre that a numeric system apart from its functionality can drive us, the human – the usually emotional species, so addicted to it? Computing is indeed something essential. It’s there at every touch of our finger on the keyboard or at every tap on the screen; nevertheless its actual structures or activities stay mainly unknown to our common knowledge. It is taken for granted that this hi-tech is always available for our exploitation. Computing is a new slavery at this moment in time.

-

Giả thử là cư dân sống vào những năm đầu thế kỉ hai mươi, chắc hẳn chúng ta sẽ không thể tưởng tượng được vì sao dòng dõi hậu duệ của mình trong thế kỉ tiếp theo lại có thể lệ thuộc nhiều vào hệ thống máy tính đến vậy. Gần như tất cả mọi thứ chúng ta thực hiện, chế tạo, sử dụng ngày nay đều liên quan  đến chu trình công nghệ. Dạo trước, cách đây chẳng bao lâu kể từ cuộc cách mạng công nghiệp, người người thi nhau sáng chế ra các công nghệ mới và ứng dụng vào từng công đoạn làm việc. Đây là một đường đua kịch tính trong chiều lịch sử tiến hóa của nhân loại, khi cuộc chạy đua sản xuất càng nhiều thành quả trong thời gian ngắn nhất trở thành thứ công cụ không chỉ để tăng cường sức mạnh công nghiệp, mà còn nhằm để củng cố quyền lực kinh tế quốc gia.  Nhưng điều đó không đơn thuần mang tính vĩ mô nữa. Thời đại bây giờ vô số tín đồ công nghệ cao liên tục cập nhật và săn tìm những ứng dụng mới nhất cho thiết bị cầm tay dùng cho cá nhân cực ngầu của mình – thứ được điều khiển hoàn toàn bằng bộ máy tính lắp đặt bên trong. Chúng ta biết rõ những kí tự trừu tượng của bộ máy ấy, chẳng hạn ‘tốc độ nhanh x-GHz’, ‘độ phân giải x-p HD’, thậm chí rõ ràng là, khi con số x ấy càng lớn thì mức độ hài lòng của chủ nhân nó càng tăng. Chẳng phải kì dị thay, ngay cả khi không kể đến tính hữu dụng thực tế của hệ thống kí hiệu số học này, thì con người – một giống loài cảm tính – lại vẫn ham mê đuổi theo những con số  phức tạp ấy! Công nghệ máy tính – điện toán – thực sự đã là một thành tố vô cùng quan trọng.  Nó có mặt tại từng cú chạm ngón tay trên bàn phím hay lướt trên màn hình cảm ứng; tuy vậy, kết cấu hay hoạt động cụ thể của nó hầu như vẫn là một thứ ẩn số đối với đại đa phần mọi người. Người ta thường chắc mẩm một điều rằng công nghệ cao luôn ở đó, có sẵn, trong tầm tay để được tận dụng. Điện toán là thứ nô lệ mới cho loài người trong thời điểm hiện nay.

We had been vaguely scared of an obscure hi-tech experiment likewise in sci-fi horror movie before seeing ‘Irrational Computing’ by Ralf Baecker exhibition. It is exactly the feeling when we human have to confront a creature, which has been served to us all the times, should be familiar to us, is however mysterious and is known thoroughly perhaps only by professionals. In reality of the exhibition, the imaginative monster was rather charming. Ralf Baecker magnifies several parts of the computing system then attaches speakers to them to turn the computer’s working process volume up. In the exhibiting room’s darkness, what we saw from his work are winsome crystalized patterns, glossy glass plates, and a complicated technological architecture connecting the whole elements. We listened to the machine’s living breath, while gradually being conscious about a non-detachable part of our modern life. Ralf’s system is of course a simple computing exemplar, but it did give us a nice tour to mysterious world of technology, as if we were Alice and ran across a strange area. Although his method may sound lyrical, this world of computing is reproduced not spectacularly. Ralf’s subtle representation avoids greed of splendid visual effects, meanwhile raises a serious question on our consciousness about the technology and computing sphere.

-

Trước lúc tới xem triển lãm ‘Thứ điện toán phi lý’ của nghệ sĩ Ralf Baecker, chúng tôi thoáng e ngại một kiểu thử nghiệm công nghệ cao quái gở tựa trong phim khoa học viễn tưởng hơi hướm kinh dị. Đấy cũng chính là cảm giác của chúng ta – loài người – khi phải đối đầu một thực thể mà suốt ngày phục vụ cho ta, đáng lẽ phải quen thuộc với ta, hoá ra lại bí ẩn và có lẽ chỉ được biết đến một cách rõ ràng nhất nội bộ trong giới chuyên ngành. Thực tế tại cuộc triển lãm, con quái vật tưởng tượng ấy khá là quyến rũ. Ralf Baecker phóng đại một số phần của hệ thống điện toán rồi gắn kết chúng với dàn loa nhằm phát thanh thứ tiếng động khi làm việc của máy tính. Trong bóng tối của phòng triển lãm, thứ chúng tôi thấy là những mô hình kết tinh lấp lánh tuyệt đẹp, những tấm kính bóng loáng, và một thể kiến trúc công nghệ phức tạp kết nối các thành phần lại với nhau. Chúng tôi lắng nghe tiếng thở của máy móc, rồi dần dần ý thức được sự sống của một thành phận không thể tách rời khỏi cuộc sống hiện đại. Hệ thống của Ralf dĩ nhiên chỉ là một khuôn mẫu điện toán giản lược, nhưng nó thực sự đã đưa chúng tôi vào một thế giới huyền bí của công nghệ, giả như chúng tôi là Alice vô tình lạc vào một khu vực kì lạ. Mặc dù phương thức của Ralf nghe có vẻ thi ca hóa, thế giới điện toán này của anh được tái tạo không hề ngoạn mục. Sự miêu tả tinh tế của Ralf tránh được cái tham lam về hiệu ứng thị giác, trong khi vẫn có thể gợi lên một câu hỏi quan trọng đặt ra cho ý thức của con người đối với phạm vi của công nghệ và điện toán.

Functional turning point – Bước ngoặt của hoạt động*

No matter how bad the past could be, we habitually have a tendency to adorn it by our nostalgic filter. Although we were not sure if we were attracted to such monumental construction like Berlin Tempelhof Airport, we found many its details very charming and somewhat poignant. We imagined them surrounded with people, be functional and attractive as any other architectural entity.

Yet indeed so is it, Tempelhof is not completely abandoned. It is surrounded, not busy in every second and minute as an airport anymore, but fresh as a joyful public park Tempelhof Freiheit – Tempelhof Freedom and trendy as an innovation urbanwear and streetcouture trade fair – Bread & Butter. History may change architecture’s function, in a good way, as long as people believe it can still be functional.

Dù cho quá khứ có tệ ra sao, chúng ta vẫn thường có xu hướng tô điểm cho chúng qua lăng kính hoài cổ. Mặc dù không chắc mình có ưa thích lối xây dựng tượng đài hoành tráng như sân bay Tempelhof Berlin hay không, chúng tôi vẫn cảm thấy những chi tiết của nó rất duyên dáng và phần nào khiến mình mủi lòng. Chúng tôi đã tưởng tượng chúng được vây quanh bởi con người, trở nên hữu dụng và gợi cảm như bao thực thể kiến trúc khác.

Quả đúng sự thực là nó vẫn như vậy, Tempelhof không hoàn toàn bị bỏ hoang. Nó vẫn có người, không đông đúc từng giây từng phút như một sân bay nữa, nhưng tươi mới bởi nó trở thành khu công viên công cộng Tempelhof Tự Do, và thời thượng bởi hội chợ thời trang sành điệu Bread & Butter. Lịch sử có thể thay đổi chức năng của kiến trúc, theo nghĩa tốt, một khi người ta vẫn tin rằng nó hữu dụng.



These round shapes witness the change of history by the change of their function. Glamorous golden ceiling lamp, sturdy lamp pillar, disciplined office wall-clock and courageous symbol of Berlin’s basketball team resist their color fade.// Những hình tròn này chứng kiến sự thay đổi của lịch sử bằng sự thay đổi chức năng của nó. Đèn trần vàng lấp lánh, cột đèn thép lực lưỡng, mặt đồng hồ văn phòng đầy kỉ cương hay biểu tượng dũng cảm của đội bóng rổ Berlin, tất thảy cố cưỡng lại sự phai màu của chúng.

 

Dusk is not different from itself 70 years ago, at least we assume so. However, something have changed: erotic La vie en rouge bar appears, walls were torn apart, Berlin alliance map no longer applies. // Cảnh hoàng hôn không thay đổi so với cách đây 70 năm, ít ra chúng tôi cho là vậy. Tuy nhiên, một số thứ đã đổi thay: quán rượu gợi tình Đời màu hồng xuất hiện, những bức tường rơi vữa, bản đồ phe đồng minh tại Berlin chẳng còn áp dụng vào đâu nữa.

 

Berlin Tempelhof’s front view at night in a festival of light. // Cảnh mặt trước Berlin Tempelhof một đêm trong lễ hội ánh sáng.

 

*: or the Wander through Berlin Tempelhof Airport (part 2: seeing how things change with benefits). // hay chuyện lang thang ở sân bay Berlin Tempelhof (phần 2: xem sự việc thay đổi theo lợi ích).

The power’s relic – Sót lại của đế chế quyền lực*

When legendary German-American architect Ludwig Mies van der Rohe said: ‘Architecture is the will of an epoch translated into space.’, he should have called in mind his lifetime endeavor to contribute the rationality to modernist architecture. Yet architecture is not only belonged to the creative architects like Mies or such, but it is also a symbolizing medium of epochs’ ruling powers. Once any power aims to appear on the historic chronological line, its hunger of strength manifestation in space spreads and deepens. Had NSDAP not that huge ambition of world power, they would not have built the monumental Berlin Tempelhof airport, which was one of the largest buildings of the world at that time. The gigantic airport complex is abandoned now, as its building era has gone.

Khi kiến trúc sư huyền thoại người Mỹ gốc Đức Ludwig Mies van der Rohe nhận xét: ‘Kiến trúc là ý chí của một thời kì lịch sử, được chuyển thể sang không gian.’, ông hẳn đã nghĩ tới lòng nhiệt huyết trọn đời của ông cống hiến tính duy lí vào nền kiến trúc hiện đại. Tuy vậy, kiến trúc không chỉ thuộc về những nhà kiến tạo như Mies, nó còn là thứ công cụ biểu trưng cho thế lực cầm quyền trong thời kì lịch sử tương ứng. Khi bất cứ phái quyền lực nào có ý định xuất hiện trên biên niên sử kí của dòng thời gian, cơn thèm thuồng muốn thị uy sức mạnh trong không gian lại lan toả sâu đậm. Nếu Đảng Quốc Xã xưa kia không mang tham vọng lớn bá chủ thế giới, họ sẽ không xây dựng nên một sân bay như tượng đài Berlin Tempelhof, nơi từng là một trong những khối hạ tầng lớn nhất thế giới thời điểm đó. Khu sân bay khổng lồ giờ đây bị bỏ hoang, cũng như triều đại lịch sử đã xây dựng nên nó bị tàn phế.

The spectacular infrastructures built and presented by German power in 1930s.// Những hạ tầng ngoạn mục được xây dựng và ‘trình diễn’ bởi sức mạnh nước Đức thập niên 1930.

 

Its thick metal doors were closed, its basement was burnt, its marble stairways and silver lifts were vacated. // Những cánh cửa sắt dày bị đóng sầm, những hầm ngầm bị đốt cháy, những cầu thang ốp đá và thang máy sáng bạc bị bỏ trống.

 

Its public spaces are now empty. From a monument of power it becomes temple of neglected memories. // Những không gian công cộng bây giờ thành trống trải. Từ khối tượng đài của quyền lực, nó trờ thành một toà điện thờ của những kí ức bị lãng quên.

 

*: or the Wander through Berlin Tempelhof Airport (part 1: a spectacle of power through architectural expression). // hay chuyện lang thang ở sân bay Berlin Tempelhof (phần 1: biểu thị quyền lực thể hiện qua kiến trúc).

Spectrum of Politics – Quang phổ của Chính trị

When Aristotle mentioned about politics, he started with ‘polis’ – the city, in which the word ‘political’ – politikos  is rooted. City is without doubt a significant spot of politics. How the city acts, exposes how political its citizens are. Berlin is hence not a differing case, although it is unique to any other cities of Germany, or even of Western Europe. It is a ‘Berlin Calling’* to all colors of politics.

Khi Aristotle bàn về chính trị, ông bắt đầu với ‘polis’ – thành thị theo tiếng Hy Lạp cổ, chữ bắt nguồn cho từ ‘politikos’ – thuộc về chính trị. Thành thị, không nghi ngờ gì nữa, là một điểm trọng yếu của hành xử chính trị. Cách mà mỗi thành phố cư xử, thể hiện tính chính trị của người dân nơi đó. Berlin không phải trường hợp ngoại lệ, mặc dù Berlin luôn là trường hợp đặc biệt khi so sánh với bất kì thành phố nào khác của Đức, hay của toàn bộ cả Tây Âu. Đó là lời ‘Berlin vẫy gọi’* dành cho tất cả màu sắc chính trị.


(click on the collage to see details of the spectrum. // nhấn vào hình để xem chi tiết của quang phổ.)

*: you may not know yet that Berlin Calling is one of our favorite movies, and probably the most chosen about Berlin, oh we are not sure, we cannot decide between it and Goodbye Lenin. // có thể bạn chưa biết, Berlin vẫy gọi là một trong số những bộ phim yêu thích của chúng tôi, và về đề tài Berlin thì chắc là hay nhất, à, nhưng chúng tôi cũng chưa thể phân định được với bộ phim tạm biệt Lenin.

Beyond the reasoned insight – Vượt ngưỡng hiểu biết của lý luận*

Coming back to the Ideal Fall, this time we decide to unravel Hoang Duong Cam’s works by following his hypothesis on a supreme decline. When Cam indicates his exhibition with the word ‘Fall’, there would be analytically two signs of Fall seen from his works: one is to be fallen and the other is to fall. Hence that the Fall is ideal, would be regarded to each certain standpoint of the reception.
The exhibition consists of 3 sections: Ideal Fall, Lightning in U Minh Forest and The Weirdness of an Ideal Mind, entirely under the theme titled ‘Ideal Fall’. This title intrigues us by its undisclosed clue about predicament changes. What falls and why it falls are the two constant questions, which insist us on tracking down the story. If we look at works of the whole series separately, the photography series Ideal Fall signifies obviously such a narrative story in it. Yet viewing them in one thorough unit as a ‘Fall’, the repetition in the state of mind among the photographs, paintings and sculptures reveals their coherent leitmotif: a crash between consciousness and unconsciousness, between rationalization and incomprehension, then foremost between the philosophical ideal and the concrete reality. It is not a story told by Cam, but an exposition of his intelligible world.

Quay trở lại với Ideal Fall**, lần này chúng tôi quyết định mày mò với tác phẩm của Hoàng Dương Cầm theo giả thuyết của anh về một sự sụt tàn vĩ đại. Khi Cầm ngụ ý về cuộc triển lãm của mình với từ ‘Fall’/ ‘Rơi/ Ngã/ Giảm/ Sụp/ Sụt’, có hai khả năng phân tích về dấu hiệu ‘Rơi’ trong tác phẩm: bị làm cho suy giảm hoặc tự bản thân suy sụt. Cho nên, việc sự Rơi có mẫu mực hay không, phụ thuộc vào từng vị trí xem xét vấn đề của người quan sát.
Triển lãm gồm 3 mảng: Ideal Fall/ Cú rơi Lý tưởng, Lightning in U Minh Forest/ Tia chớp trong Rừng U Minh và The Weirdness of an Ideal Mind/ Sự Siêu nhiên của một trí tuệ lý tưởng, toàn bộ thuộc một chủ đề chung mang tựa ‘Ideal Fall’/ Cú rơi lý tưởng. Chính tựa này đã kích thích sự tò mò chúng tôi trước một dòng mạch ý nghĩ không được hé lộ nói về những tình thế biến động. Điều gì đang ngã quỵ và tại sao lại sụp đổ là hai câu hỏi khăng khăng đòi chúng tôi tìm hiểu ra câu chuyện. Nếu xem các bộ tác phẩm trong cả triển lãm một cách riêng rẽ, thì bộ ảnh Cú rơi Lý tưởng biểu thị rõ ràng nhất hình thái một câu chuyện kể. Nhưng nếu nhìn chúng dưới một tổng thể chung của sự ‘Rơi’, cùng tính lặp lại của trạng thái suy nghĩ diễn tả trong ảnh, tranh vẽ và điêu khắc, thì có thể khám phá ra một chủ đề thống nhất: sự đổ vỡ giữa ý thức và vô thức, giữa xu hướng muốn giải thích theo lý trí và sự thất bại trong việc hiểu thấu, và trên hết là mâu thuẫn giữa lý tưởng triết học siêu việt và thực tế cụ thể. Đây không phải là một câu chuyện kể cụ thể của nghệ sĩ, mà ở đây, Hoàng Dương Cầm phơi bày thế giới nội tâm của mình – chỉ có thể nhận thức bằng trí óc chứ không bằng vật chất hay cảm năng.

 

While many Vietnamese contemporary artists have been using the power of narration as a fruitful mode in their works, Hoang Duong Cam is rather practicing conceptual with a hint of abstract expressionism. By the style of abstract expressionism, Cam’s works are evocative puzzles, where his concepts and sentiments are blended into abstruse depiction. This is considered as one big challenge for Vietnamese art public, who prefer to incline their interpretation to any visible allegorical concepts that can be traced in the works. However, the aesthetic value of Cam’s paintings, sculptures and installations is rich enough to magnetize his art viewers and progressively to influence their stances. Choosing this strategy of artistic presentation, Cam impels the viewers to his own inner world, in which they have to conform to his psychological and conceptional habitus.

Trong khi nhiều nghệ sĩ đương đại Việt Nam khai thác sức mạnh của tính kể chuyện như một phương thức màu mỡ cho tác phẩm, Hoàng Dương Cầm thực hành nghệ thuật ý niệm với hơi hướng của trừu tượng biểu hiện. Bằng phong cách này, tác phẩm Cầm như những câu đố tượng hình, nơi ý niệm và cảm tính hợp vào thành một sự diễn tả phức tạp. Nó gây ra một thử thách lớn, làm cho đại số đông người xem nghệ thuật Việt Nam khó đến gần với nghệ thuật của anh, khi họ thường thích lái sự hiểu của mình theo bất cứ biểu tượng ẩn dụ nào lần mò được trên tác phẩm. Tuy vậy, giá trị thẩm mỹ qua thị giác trong các tranh, tượng và sắp đặt của Cầm vẫn đủ phong phú để thu hút công chúng ngay cái nhìn đầu tiên và dần dần gây ảnh hưởng lên lập trường vốn dĩ của họ. Lựa chọn chiến thuật trình bày nghệ thuật như vậy, Cầm lôi kéo người xem vào thế giới nội tâm, để trong đó họ phải tuân nhập theo cách thức tâm lý và ý niệm của anh.

 

Who dare to throw themselves into this inner sphere, they have a chance to grasp the artist’s expression. The viewers can perceive what might be both conscious and unconscious in the artist’s mind, meanwhile they become aware of their own consciousness’ reactions and limitations during their reasoning process. This is the abstract consciousness of the human, which bonds among them by communication and performance’s body languages, by music’s rhythms or in this case by vision’s shapes and colors. As Nietzsche wrote in ‘Die fröhliche Wissenschaft’ (The Gay Science, not related to ‘gay’ in sexual meaning but ‘happy, joyful’), consciousness is  as human’s reflexion and its development goes along with the development of language; since the human are too weak to be alone, then consciousness and language play the role as a communicative function to help. On that account, Hoang Duong Cam’s abstraction frees consciousness apart from language, goes beyond what can be said, written, sensed or even be able to be conscious of. As having said, we follow his intelligible structures through the Fall in Ideal Fall and Lightning in U Minh Forest, one in urban landscape and the other in mysterious nature, to reflex his falling thoughts, nevertheless with no hermeneutic attachment.

Ai dám tự dấn mình vào môi trường nội tâm này, họ sẽ có cơ hội nắm bắt được biểu cảm của người nghệ sĩ. Khi ấy, họ cảm nhận cả những điều Cầm ý thức lẫn biểu cảm vô thức của anh; đồng thời, họ nhận ra được những phản ứng và giới hạn trong ý thức của chính mình thông qua quá trình lý luận này. Đây là tính ý thức trừu tượng của con người, thứ khiến con người kết nối lẫn nhau, thông thường bằng ngôn ngữ giao tiếp và biểu diễn, bằng giai điệu âm nhạc hay trong trường hợp này qua hình dạng và màu sắc thị giác. Như Nietzsche viết trong tác phẩm ‘Khoa học vui vẻ’, ý thức là phản xạ của con người và sự phát triển của nó gắn liền với sự khai triển của ngôn ngữ; bởi lẽ loài người quá yếu ớt để tồn tại đơn độc, do đó ý thức và ngôn ngữ đóng vai trò như công cụ hỗ trợ giao tiếp hay truyền tin. Trên tinh thần của Nietzsche, tính trừu tượng trong tác phẩm Hoàng Dương Cầm đã giải phóng ý thức tách khỏi ràng buộc ngôn ngữ hay biểu tượng, vượt lên trên những gì có thể nói bằng lời, viết ra, lẫn vượt khỏi giới hạn ý thức được. Chúng tôi đi theo cấu trúc nội tâm của Cầm, xuyên qua những đổ ngã trong Cú rơi lý tưởng và Tia chớp trong Rừng U Minh, một ở nơi kiến trúc đô thị và một trong thiên nhiên huyền bí, để rồi soi rọi được những ngẫm nghĩ đang buông rơi của nghệ sĩ; dù vậy vẫn không dám gán ghép bất cứ chú giải nào vào chúng.

 

To us, the most dramatic of Ideal Fall would be The Weirdness of an Ideal Mind, where a vigorous crash happens when Cam interjects the fact-based focuses into his nonrepresentational sector. The political symbolistic figures in The Ship, Pray and V Ladder become not attributing to their original concepts, but are reflexion for the metaphysical question: What would be possibly comprehended as society, power and ideology in the intelligible world? The mind struggle between perceived reality and intellectual viewpoint breaks out of his control, stretches out his supposition about the idealism. For its metaphor he realizes into three-dimensional installations, which verge physically on the viewers by their cryptic sculptures stringed to cord, fabric and paint. Their regulated construction uncovers Hoang Duong Cam’s continual attempt to settle his mind. It would be an endless process, for any ideal state would hardly be seized.

Đối với chúng tôi, kịch tích nhất trong triển lãm là bộ tác phẩm Sự Siêu nhiên của một trí tuệ lý tưởng, nơi diễn ra cú va chạm dữ dội khi Cầm bỗng xen những tiêu điểm thực tế vào phạm vi trừu tượng trong tâm trí anh. Các hình ảnh biểu tượng chính trị như trong Con tàu, Mồi và Thang V bị rời xa với ý nghĩa ban đầu của chúng, trở thành hình tượng phản ánh câu hỏi mang tính siêu hình học: Khái niệm xã hội, quyền lực và lý tưởng có thể được nhận thức như thế nào trong thế giới của ý nghĩ?  Cuộc đấu tranh trong trí tuệ giữa thực tế cảm nhận bên ngoài với quan điểm  suy luận tri thức bên trong bục vỡ khỏi sự kiểm soát của Cầm, vượt khỏi giả định của anh về tính lý tưởng. Ẩn dụ cho điều này, Cầm mô tả qua tác phẩm sắp đặt trong không gian ba chiều, ra khỏi giới hạn của bề mặt tranh vẽ hay nhiếp ảnh, tiến sát đến cơ thể của của xem với những vật thể điêu khắc kì quái dính vào dây thừng, nùi vải và sơn. Cơ cấu sắp đặt chặt chẽ này tiết lộ cố gắng liên tục của Hoàng Dương Cầm trong việc định đoạt ý nghĩ của anh.  Nó sẽ là một quá trình không hồi kết, bởi trạng thái lý tưởng vô cùng khó khăn để tóm giữ.

 

According to our analytical indication at the beginning, we have been fallen in Hoang Duong Cam’s works to capture his fall. The ideal is fallen once it collides with falling state of mind. Even so, we hope Cam, despite any falls, will never give up to strive for the ideal state of his art.

Chiếu theo cách phân tích ban đầu, chúng tôi bị rơi vào tác phẩm của Hoàng Dương Cầm nhằm đoạt được cú ngã của anh. Sự lý tưởng bị rơi ngã khi nó xung đột với trạng thái đổ vỡ của trí tuệ. Và ngay cả trong trường hợp như vậy, chúng tôi cũng hi vọng rằng Hoàng Dương Cầm, dù bất kể cú rơi ngã nào, vẫn không chùn bước để vươn tới cái đỉnh điểm lý tưởng trong nghệ thuật của anh.

 

 

*: or The Wandering through Quynh Galerie, at Hoang Duong Cam’s solo exhibition (part 2: a venture to Cam’s inner world).// hay chuyện lang thang ở Phòng tranh Quỳnh, nhân triển lãm cá nhân của Hoàng Dương Cầm (phần 2: chuyến mạo hiểm vào thế giới tiềm tàng trong nghệ sĩ Cầm).

**: for that there is no official Vietnamese title of this exhibition, our try to translate it can be very subjective according to our artistic perception.// do không có tên triển lãm chính thức bằng tiếng Việt, việc dịch của chúng tôi có thể mang tính chủ quan vì nó dựa trên cảm quan nghệ thuật của bản thân.

Pumpkin Magic – Phép thuật Bí ngô

Some baby-faced friends of us are usually called ‘pumpkin’ or ‘pumpkin pie’, as that term is ‘used as an affectionate term of address, esp. to a child’ (New Oxford American Dictionary). Then, the pumpkin becomes an image of a scary face for Halloween, too. Oh, we human can bend our perception in any way that we want! Happy Halloween! Are you a pumpkin-pie or a pumpkin psyche?!

Một vài người bạn của chúng tôi có gương mặt đáng yêu kiểu trẻ con ngây thơ thường bị trêu là ‘pumpkin’ (‘bí ngô’, tất nhiên người trêu không có ý châm chọc như cách dùng từ ‘bí’ của người Việt ta: bí xị, bí lù, bí đao…). Quả bí ngô ấy lại thành gương mặt đáng sợ biểu tượng cho lễ Halloween. Ô, thế là người ta có thể biến hóa ý nghĩa đủ đường theo mong muốn tuỳ vào hoàn cảnh! Dù sao thì, chúc một lễ Halloween hoàng tráng! Bạn là bánh bí hay ma bí?

 

Blog at WordPress.com.
Theme: Esquire by Matthew Buchanan.