Contrary to assumption, the perception of a ‘disagreeable’ attitude amongst the youth of today is not simply argued as a desire for autonomy in a society that seeks to control, but more a reflection of a mood of critical self-reflection. In Vietnam, young people are observed and understood through categorizations. These stereotypes are often formed through a misinterpretation of social respect, cultural and spiritual traditions Emerging from this observed fray are three Saigon-based artists Vo Tran Chau, Le Dinh Chung and Nguyen Anh Thao who have created an intimate room titled Born from The Land, where their art provides a stage for critical social feedback.
-
Trái với mặc định thường gặp, thái độ bất bình của giới trẻ thời đại ngày nay không nhất thiết là một thứ để chứng tỏ sự tự do ý chí trong xã hội, mà hơn cả, nó là một cách thức phản tư mang tính tự phê phán. Người trẻ tuổi ở Việt Nam thường bị quan sát hay nhận xét thông qua các kiểu mẫu phân loại và đánh giá trong xã hội. Các khuôn mẫu bất di bất dịch này hình thành do hiều biết sai lầm về tôn ti trật tự xã hội, hay truyền thống văn hoá và tinh thần. Suy ngẫm về cuộc mâu thuẫn giữa định kiến xã hội và thái độ tự phê bình này, ba nghệ sĩ Sài Gòn, Võ Trân Châu, Lê Đình Chung và Nguyễn Anh Thao, đã tạo nên một căn phòng gần gũi, thân mật mang tên Từ đất sinh ra, nơi nghệ thuật của họ trở thành một bục diễn đàn cho sự phản ánh xã hội.
These three artists have transformed the interior space of San Art. Vo Tran Chau has built a temporary well in the centre of the gallery. Her colorfully molded brick well, physically forces the viewers into a limited area around it. Living in a Thu Duc, a suburb of Saigon, surrounded by ecological gardens and handicraft ateliers, Tran Chau tends to use natural objects to materialize her art. For instance, her installation ‘To be cast in the same mold’ comprises more than 100 materials such as rice, leaves, beans, peas, threads, pencils, and much more. Each brick comprises one material as a metaphor of one particular characteristic of an individual. Each brick becomes a component of the well. The well is a strictly controlled construction settled in space; while also a physical threat as its structure seems unstable and easily dismantled. Tran Chau is the only female artist in the exhibition and she does not refuse her femininity. The well’s inner side raises a temptation to discover and to fill it up. Conscious of how the ‘feminine’ can magnetize viewers’ fascination with beauty, she capitalizes on this aesthetic argument to also make comment on social discipline and formation. Do standardized regulations construct beauty and happiness? Is a governed structure always the absolute principle that every network should acquire?
-
Ba nghệ sĩ đã thay đổi không gian nội thất của Sàn Art. Võ Trân Châu xây một cái giếng ngay chính giữa phòng tranh. Cái giếng gạch đổ khuôn đủ màu của cô tựa như dùng lực kéo người xem vào một khu vực bị giới hạn xung quanh nó. Sinh sống tại Thủ Đức, khu ngoại ô Sài Gòn, bao quanh bởi những khu vườn sinh thái và xưởng thủ công, Trân Châu có xu hướng vật chất hoá thiên nhiên trong cách làm nghệ thuật của cô. Như sắp đặt ‘Cùng một khuôn’ trong triển lãm lần này chẳng hạn, tác phẩm gồm hơn 100 vật liệu tự nhiên như gạo, lá cây, đậu, hạt, chỉ, bút chì, v.v… Mỗi viên gạch đóng khuôn từ một loại vật liệu riêng, ẩn dụ cho một đặc tính cá nhân riêng biệt. Từng viên gạch đó trở thành một thành tố của cái giếng. Giếng của Trân Châu là một công trình chặt chẽ được dựng giữa không gian, nhưng đồng thời ở đó vẫn tồn tại một mối hiểm nguy vật lý có thể phá vỡ toàn bộ cấu trúc một cách dễ dàng. Trân Châu là nữ nghệ sĩ duy nhất trong triển lãm và cô cũng không chối bỏ sự nữ tính của mình. Hình ảnh lòng giếng khơi lộ rõ làm dấy lên nỗi khát khao thám hiểm và lấp kín nó. Ý thức rõ ‘tính nữ’ có thể mê hoặc người xem bằng vẻ đẹp, cô đã tận dụng vẻ ngoài thẩm mỹ này để gửi gắm những trăn trở về kỉ cương và khuôn thức xã hội. Liệu những quy luật chuẩn hoá có định nghĩa được vẻ đẹp và hạnh phúc? Liệu một kết cấu được cai quản nghiêm ngặt có phải là nguyên tắc căn bản tối cao cho mọi hệ thống?
In contrast with Tran Chau’s aesthetic femininity and conceptual provocation in stability and insecurity, Le Dinh Chung demonstrates a ‘fire with fire’ attitude: he exhausts the media resources in his sculptural installation to imply the conflict of media that manipulate ideas by edited knowledge today. Twelve upturned televisions, its external surface painted in military camouflage design and pieced together within a large red metal cage, are set up as a kind of info-station. The top row represents Hanoi and its TV content; the middle row represents Ho Chi Minh City’s TV content; while the final bottom row of ## sit quietly in static, as if the signal has dropped. Multiple symbolic and metaphoric layers are suggested, as if waiting to be discovered, like a guerilla ready to engage a fight. The obscure arrangement of the television’s in a row of three and stacked atop each other represent altered facts and figures. The camouflage pattern suggest a hidden message to the audience; while the red color operates as a signal of officialdom or authority. These layers combined illustrate the presumed common knowledge of the public, in which the television is a mainstream information source for contemporary society where the national and provincial television channels are legitimate news broadcast and the red paint represents our land and the party’s official color. It is also remarkable to recognize an analytical motif about standardization and regulated formation between Tran Chau’s and Dinh Chung’s work: the number 12 – a dozen; the number of months in a year; the astrological calendar of the 12 zodiac; or the Lunar Calendar and its cycle of 12 in differentiating the animal signs.
-
Đối lập với thẩm mỹ nữ tính và sự khiêu khích trừu tượng về mâu thuẫn giữa vững chắc và bấp bênh của Trân Châu, Lê Đình Chung thể hiện quan điểm ‘lấy mỡ nó rán nó’: trong sắp đặt mang tính điêu khắc của mình, anh khai thác tận cùng nguồn truyền thông, ngụ ý về cuộc mâu thuẫn trong thế giới truyền thông hiện tại, trong việc vận dụng lôi kéo bằng thông tin đã bị chỉnh sửa. Mười hai chiếc tivi phủ sơn nguỵ trang quân đội rồi đặt trong lồng sắt sơn đỏ tạo nên một trung tâm thông tin. Hàng đầu tiên chiếu các kênh truyền hình trung ương, hàng thứ hai chiếu kênh địa phương và hàng cuối cùng màn hình bị nhiễu, giả như đang bị mất sóng. Nhiều lớp ý ẩn dụ và tượng trưng đợi chờ được khám phá từ tác phẩm, như thể một chiến sĩ du kích sẵn sàng lao vào trận đánh. Cách sắp xếp các tivi thành hàng dãy chồng chéo lên lẫn nhau trông khá kì lạ tương ứng cho thông tin chi tiết bị sửa đổi. Lớp màu nguỵ trang gợi thông điệp ẩn giấu cho người xem, trong khi màu đỏ là dấu hiệu của trung tâm đầu não hay căn cứ điều hành. Những lớp ý này cũng kết hợp cùng với cách hiểu của đa số quần chúng, ví dụ truyền hình là nguồn kênh thông tin chính thống từ nhà đài trung tương và địa phương, hay màu đỏ là sắc màu biểu tượng của quốc gia và của Đảng. Đáng chú ý ở triển lãm là motif nói về sự chuẩn hoá và khuôn mẫu quy định trong tác phẩm của Trân Châu cũng xuất hiện ở sắp đặt của Đình Chung: cụ thể là con số 12 có nghĩa là một tá, số tháng trong năm, 12 con giáp hay 12 cung hoàng đạo.
Differing from the experimentation of Tran Chau and Dinh Chung, Le Anh Thao continues to practice with the oil painting medium. While the other two artists imply conceptual critique through physical objects, Anh Thao travels to his inner world to expose an idea about his external social, cultural and political world. The three large paintings depict a serial scene of a man gasping for oxygen as his head is wrapped tightly in a clear plastic bag. The man’s face, painted in red, black and white, appears to be drowning in slow agony from the disillusion of life. This awkward moment of death conjures cinematic sequences of a dramatic psycho movie. Anh Thao reveals that this body of work comes from a strange desire to endure the corporeal experience of annihilation. Driving his body to its limitation, Anh Thao aims to transcend any norm of the body’s consciousness. The normativity, in general, is derived not only from moral norms, that have been standardized by society for a long time and may apply in every culture worldwide, but from an individual’s conception about aesthetic, historical and social ideality as well. When Anh Thao tries to examine the limits of his nature, it is also his way to question a presumed human universality.
-
Khác hẳn với cuộc thử nghiệm trong vật liệu và sắp đặt của Trân Châu và Đình Chung, Lê Anh Thao tiếp tục thực hành nghệ thuật với chất liệu tranh sơn dầu. Trong khi hai nghệ sĩ kia thể hiện những luận điểm ý niệm của mình thông qua các vật chất cụ thể chung quanh họ, Anh Thao du hành vào thế giới nội tâm để bộc lộ suy nghĩ về thế giới xã hội, văn hóa và chính trị bên ngoài con người anh. Ba bức tranh khổ lớn khắc hoạ một chuỗi cảnh người đàn ông đớp lấy không khí khi đầu ông ta bị bọc kín bởi một cái bọc nhựa. Gương mặt người đàn ông phết quyện giữa màu đỏ, đen và trắng hiện ra như thể đang đắm chìm trong cơn hấp hối dằng dặc hay sự vỡ mộng của cuộc đời. Khoảnh khắc nguy hiểm đối mặt với cái chết gợi lên những thước phim bi-kinh dị. Anh Thao cho biết tác phẩm này ra đời từ một niềm khao khát kì lạ muốn trải qua sự hủy diệt hữu hình. Cưỡng bức cơ thể mình tới mức giới hạn của nó, Anh Thao hướng tới việc việc qua ngưỡng ý thức của cơ thể. Mỗi tiêu chuẩn đặt ra, trên bình diện chung, không chỉ từ những nguyên tắc đạo đức đã chuẩn hóa lâu đời trong xã hội, điều có thể thấy ở hầu hết các nền văn hóa trên thế giới, mà còn từ nhận thức cá nhân về lý tưởng thẩm mỹ, lịch sử và xã hội. Khi Anh Thao cố gắng tìm kiếm giới hạn tự nhiên của cơ thể anh, anh cũng đồng thời đặt ra câu hỏi cho những gì vốn dĩ được xem là hoàn toàn đúng và phổ thông cho nhân loại.
Understanding ‘land’ beyond its concrete substance of tillage is not a new direction in the art world, if we think of the artists in the 1960s and 1970s went artist’s created works in and with the natural environment, as a movement transferring the audience of art beyond the white walls of a gallery. ’Land’, in many languages, is related to ideas of nation, descent, heritage and culture. In Vietnam, largely an agricultural economy, ‘land’ is popularly understood as a near sacred space, where a circle of life takes place – new life born from land and it returns to land after death. This exhibition is a metaphysical deliberation on the existence of self and its autonomy in contemporary life.
-
Bàn về từ ‘Đất’, vượt qua ý nghĩa cụ thể của nó là một thứ vật chất, không phải là một hướng mới mẻ trong thế giới nghệ thuật, nếu chúng ta nhớ đến trào lưu của các nghệ sĩ vào thập niên 60-70, khi họ đưa việc sáng tạo nghệ thuật của mình ra bên ngoài môi trường tự nhiên nhằm đẩy khán giả ra khỏi bốn bức tường bó hẹp trong phòng tranh. ‘Đất’, trong nhiều ngôn ngữ, đều có ý nghĩa liên quan tới đất nước, nguồn gốc, di sản và văn hóa. Trong tiếng Việt, ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp xa xưa, ‘đất’ được hiểu như một cõi linh thiêng của vòng luân hồi sự sống – nơi sự sống mới được sinh ra từ đất và sự sống quay trở lại với đất sau cõi chết. Cuộc triển lãm lần này, vì thế, là một cuộc mạn đàm siêu hình qua tác phẩm nghệ thuật về sự tồn tại của cái tôi và sự tự do của nó trong xã hội đương đại.
*: or The Wandering through ‘Born from the Land’ exhibition of Vo Tran Chau, Le Dinh Chung and Nguyen Anh Thao at SanArt // hay chuyện lang thang ở triển lãm ‘Từ Đất sinh ra’ của ba nghệ sĩ Võ Trân Châu, Lê Đình Chung và Nguyễn Anh Thao tại SànArt.


























